Tình trạng dễ bị tổn thương là một loạt các điều kiện tác động bất lợi ảnh huởng dến khả năng của một cá nhân, hộ gia đình hoặc một cộng đồng trong việc phòng ngừa và ứng phó với một hiểm họa và những ảnh huởng của biến dổi khí hậu dẫn dến những tổn thất và thiệt hại mà họ có thể gặp phải.
Trong một báo cáo của IUCN về “Người bản địa và biến đổi khí hậu” vào tháng 3/3008 xác định rằng: Các yếu tố dễ bị tổn thương của cộng đồng bản địa đối với biến đổi khí hậu được phân làm 2 nhóm: các yếu tố dễ bị tổn thương thuộc về xã hội và các yếu tố dễ bị tổn thương thuộc về mặt lý sinh.
Đi sâu về các nhóm yếu tố dễ bị tổn thương về mặt xã hội, theo Brooks (2003), các yếu tố dễ bị tổn thương về mặt xã hội là một hệ thống độc lập với các hiểm họa bên ngoài và do đó không là một hàm của tần suất và mức độ nghiêm trọng của một lại hiểm họa nhất định. Nhưng các yếu tố được kết hợp tương tác với hệ thống loài người, thí dụ như đói nghèo và bất bình đẳng, sự đẩy ra ngoài lề, biết chữ…
Nghèo đói và bất bình đẳng
Sự thiếu nguồn thu nhập, tài sản và tiền bạc là một trong những nhân tố quyết định tính dễ bị tổn thương về kinh tế xã hội của người bản địa. Đối với nền nông nghiệp tự cung tự cấp với nguồn thu nhập thấp thì người dân bản địa thường gia tăng thu nhập của họ bằng cách săn bắn, do đó mà đời sống của họ phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên. Biến đổi khí hậu đem lại các hiểm họa có thể gây tổn hại cho đời sống và sinh kế của người bản địa.
Một nghiên cứu gần đây của Ngân hàngThế giới (Hall&Patrinos, 2004) đã chỉ ra rằng người dân bản địa ở châu Mỹ Latinh vẫn là những người nghèo nhất trong khu vực với tỷ lệ nghèo giảm rất ít trong thập kỷ vừa qua, trong đó một số nơi thậm chí còn tồi tệ hơn. Biến đổi khí hậu có thể sẽ tiếp tục làm trầm trọng thêm sự nghèo đói của người dân bản địa, đặc biệt đối với những người sống ở những nơi dễ bị thiên tai, và hậu quả là hạn chế hơn nữa khả năng đối phó của người dân hoặc khả năng để phục hồi sau thiên tai (DFID, 2004). Hơn nữa,biến đổi khí hậu dự kiến sẽ có tác động tiêu cực đến nỗ lực xóa đói giảm nghèo và tạo nhiều thách thức cho việc thực hiện để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs).
Sức khỏe và dinh dưỡng
Các cộng đồng có điều kiện y tế kém và thiếu dinh dưỡng sẽ dễ bị tổn thương hơn bởi tác động của biến đổi khí hậu và có khả năng thích ứng thấp hơn so với các cộng đồng có điều kiện tốt hơn. Nhiều người dân bản địa sống trong các hệ sinh thái tự nhiên và do đó nguy cơ chịu các hiểm họa là rất lớn. Hơn nữa, do sự nghèo đói và bị cô lập, các cộng đồng này thường ít được tiếp cận với các dịch vụ y tế, phòng bệnh và các chương trình thúc đẩy hoặc nếu có thì các dịch vụ đó không phù hợp với văn hóa của họ (Montenegro, Stephens, 2006).Trong nhiều trường hợp, các cộng đồng bản địa vẫn duy trì sự cô lập của mình và hệ thống chăm sóc sức khỏe truyền thống của cộng đồng mình. Tuy nhiên, những phương thức đó thường phụ thuộc nhiều vào sức khỏe môi trường và thiên nhiên. Nếu môi trường bị phá hủy, ví dụ như một hậu quả của biến đổi khí hậu gây ra các hiểm họa thì năng lực của cộng đồng để tìm kiếm những cây thuốc và thực phẩm chữa bệnh có thể khó khăn hơn và hậu quả là gia tăng tính tổn thương của cộng đồng với các hiểm họa.
Báo cáo của IPCC (2007b) dự đoán rằng biến đổi khí hậu sẽ tiếp tục làm suy yếu tình trạng sức khỏe của hàng triệu người dân đặc biệt là những người có khả năng thích ứng thấp. Rủi ro về y tế dự phòng liên quan đến biến đổi khí hậu là đáng kể bao gồm cả tăng lên đến tiếp xúc với bức xạ tia cực tím (UVR) gây ra các bệnh mãn tính với da và mắt, thiếu nước; trường hợp tử vong do sóng nhiệt, hạn hán, lũ lụt và các cơn bão, gia tăng bệnh truyền nhiễm như sốt rét và sốt xuất huyết, và các loại bệnh do chất lượng nước giảm nước như tăng bệnh tiêu chảy và hô hấp (DFID, 2004). Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2003) ước tính rằng trong năm 2000, biến đổi khí hậu đã là nguyên nhân gây ra khoảng 2.4% bệnh tiêu chảy trên toàn thế giới, và 6% bệnh sốt rét ở một số nước thu nhập trung bình.
WHO (2003) tiếp tục cho thấy rằng trong những bệnh truyền nhiễm thì bệnh sốt rét là nhạy cảm nhất với biến đổi khí hậu dài hạn. Giả sử nhiệt độ toàn cầu tăng lên 2-3º C thì số người có nguy cơ mắc bệnh sốt rét sẽ tăng khoảng 3-5%, hoặc một vài trăm triệu. Hình dưới đây chỉ ra sự ước tính sự lây lan của các tác nhân gây bệnh sốt rét, ký sinh trùng sốt rét falciparum malaria, sang những vùng mới vào năm 2050 (sử dụng các kịch bản Headly CM2).
|

Biến đổi khí hậu và bệnh sốt rét, kịch bản cho năm 2050 (Ahlenius, UNEP/GRID- Arendal, 2005)
|
Ngày nay, ước tính khoảng 790 triệu người bị thiếu dinh dưỡng (DFID, 2004). Tình trạng này dự kiến sẽ trầm trọng do biến đổi khí hậu, đặc biệt là ở các nước vĩ độ thấp, năng suất cây trồng nói chung ước tính sẽ giảm (IPCC, 2007). Mất an ninh lương thực và thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của hàng triệu người, tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sở sinh và trẻ em. Các nhóm dễ bị tổn thương nhất bao gồm cả những người dân nông thôn đặc biệt sống ở các vùng bị thiệt thòi, nông dân chăn nuôi gia súc, người nghèo ở đô thị, người tị nạn và người di cư (DFID, 2004). Người dân bản địa sống ở các nơi xa xôi hẻo lánh cũng có nguy cơ rất cao với tình trạng thiếu lương thực và suy dinh dưỡng.
Mạng lưới liên kết xã hội
Người bản địa phụ thuộc nhiều vào các mạng lưới liên kết xã hội. Họ thường duy trì các mối quan hệ kinh tế và xã hội giữa các nhóm người khác nhau và ở nhiều nơi họ vẫn còn các hỗ trợ nhau về thực phẩm và lao động, bao gồm trao đổi qua lại, hàng hóa hoặc thị trường địa phương. Trong tương lai, những hoạt động này có thể mang lại một ý nghĩa quan trọng khi các cộng đồng này chịu tác động xấu của biến đổi khí hậu và không còn phụ thuộc vào những nguồn tài nguyên sẵn có ở địa phương.
Ngoài ra, người dân bản địa có thể trở nên phụ thuộc vào viện trợ được cung cấp bởi nhà nước, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế, đặc biệt là trong thời gian khủng hoảng. Hơn nữa, phần mở rộng của mối liên kết xã hội của người bản địa ra khắp đất nước họ sinh sống và các khu vực khác trong tương lai có thể xem như là một chiến lược thích ứng bổ sung để giảm tổn thương kinh tế xã hội.
Sự đẩy ra ngoài lề, không có điều kiện tiếp cận với thông tin, năng lượng và công nghệ
Người dân bản địa thường sống ở các vùng xa xôi hẻo lánh nên thường rất hạn chế trong tiếp cận với giáo dục, thông tin y tế, công nghệ, năng lượng, tài nguyên, viện trợ quốc tế. Do vậy, họ thường sử dụng các phương thức truyền thống, những kiến thức và kinh nghiệm của họ trong quan sát thời tiết, chữa bệnh.
Trong xu hướng biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng như hiện nay thì những dự báo truyền thông của người dân bản địa đã không còn đúng nữa, do đó tính tổn thương của người dân bản địa càng cao hơn. Việc cải thiện và tăng cường sự tiếp cận thông tin, khoa học công nghệ, các hệ thống cảnh báo sớm, chiến lược di dân đến nơi an toàn có thể làm giảm tính tổn thương của các cộng đồng này với các hiểm họa do biến đổi khí hậu gây ra. .
Đa dạng sinh kế
Một yếu tố quan trọng nhằm giảm tính tổn thương về kinh tế xã hội của người dân bản địa là duy trì sự đa đạng của nguồn tài nguyên cơ bản. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết nhằm giúp người dân thích ứng với biến đổi khí hậu.
Quyền tiếp cận và sử dụng đất
Các vùng đất tổ tiên hoặc truyền thống mà người dân bản địa sinh sống thường đại diện cho một nền văn hóa riêng đặc thù của họ. Người ta ước tính rằng người bản địa chỉ chiếm khoảng 5% số dân thế giới và chiếm 20% diện tích đất bề mặt của thế giới (Oviedo, Maffi&Larson,năm2000). Những dân tộc này có cách quản lý và định hình môi trường xung quanh họ qua nhiều thế kỷ, thích nghi với các hình thức sinh kế đặc thù với điệu kiện tự nhiên, địa lý và khí hậu của địa phương. Dân tộc bản địa được kết nối chặt chẽ với vùng đất của họ, không chỉ thể hiện qua sinh kế mà còn trong đời sống tinh thần.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quyền tiếp cận và sử dụng đất của các cộng đồng bản địa không được thừa nhận hợp pháp (IFAD, 2003). Như một hệ quả, đất đai và tài nguyên của họ thường bị khai thác, lấn chiếm bởi các thế lực bên ngoài. Với việc thực hiện các dự án liên quan đến Cơ chế phát triển sạch (CDM) hoặc giảm phát thải từ nạn phá rừng ở các nước đang phát triển (REDD), và kết quả của sự gia tăng nhu cầu về nhiên liệu sinh học, người ta lo ngại rằng các quyền đất đai của các dân tộc bản địa sẽ ngày càng tranh chấp hoặc bị xâm phạm. Nếu không có những can thiệp thích đáng thì tính tổn thương của các cộng đồng này ngày càng nghiêm trọng và ảnh hưởng đến khả năng thích ứng của họ.
Tịnh Chi - CORENARM lược dịch và tổng hợp
(Nguồn: IUCN Report, 2008)
|